Thứ Tư, 7 tháng 3, 2012

Phòng tránh bệnh Tay - Chân - Miệng

1. Đặc điểm của bệnh Tay chân miệng: Tay chân miệng (TCM) là bệnh truyền nhiễm do vi rút gây ra. Bệnh thường gặp ở trẻ 5 tuổi. Hiện nay, bệnh vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và chưa có vắc xin phòng bệnh. Bệnh có thể gây ra các biến chứng nguy hiểm như: viêm màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp do thần kinh... Các biến chứng này thường diễn tiến rất nhanh trong vòng 24 giờ và có thể gây nên tử vong nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời.
2. Đường lây truyền: Bệnh TCM lây truyền qua đường tiêu hoá: uống nước, ăn thức ăn bị nhiễm vi rút; qua bàn tay của trẻ hoặc của người chăm sóc trẻ bị nhiễm vi rút; qua các đồ dùng, đặc biệt là đồ chơi và các dụng cụ sinh hoạt hằng ngày như chén, bát, dĩa, thìa, cốc… bị nhiễm vi rút.
3. Các biện pháp phòng bệnh: Để chủ động phòng chống dịch TCM, Bộ Y tế khuyến cáo mọi người, mọi nhà và toàn thể cộng đồng cần thực hiện tốt các biện pháp sau:
► Vệ sinh cá nhân: Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng và nước sạch nhiều lần trong ngày (cả người lớn và trẻ em), đặc biệt là trước khi chế biến thức ăn, trước khi ăn /cho trẻ ăn, trước khi bế ẵm trẻ, sau khi đi vệ sinh, sau khi thay tã và làm vệ sinh cho trẻ.
► Vệ sinh ăn uống: Thực hiện tốt vệ sinh ăn uống: ăn chín, uống sôi; dụng cụ ăn uống phải đảm bảo được rửa sạch sẽ trước khi sử dụng (tốt nhất là ngâm tráng nước sôi); đảm bảo sử dụng nước sạch trong sinh hoạt hằng ngày; không mớm thức ăn cho trẻ; không cho trẻ ăn bốc, mút tay; không cho trẻ dùng chung khăn ăn, khăn tay, dụng cụ ăn uống như bát, thìa, cốc, đồ chơi…chưa được khử trùng
► Làm sạch đồ chơi, nơi sinh hoạt: Thường xuyên lau sạch các bề mặt, dụng cụ tiếp xúc hằng ngày như đồ chơi,dụng cụ học tập, tay nắm cửa, tay vịn cầu thang, mặt bàn/ghế, sàn nhà…bằng xà phòng hoặc các chất tẩy rửa thông thường.
► Theo dõi phát hiện sớm bệnh TCM: Trẻ em được thường xuyên theo dõi sức khỏe để phát hiện sớm, tổ chức cách ly, điều trị các trường hợp mắc bệnh, tránh lây bệnh cho các trẻ khác..
► Cách ly điều trị kịp thời khi phát hiện bệnh: Các nhà trẻ, mẫu giáo, nhóm trẻ gia đình và hộ gia đình có trẻ dưới 6 tuổi cần chủ động theo dõi sức khỏe của trẻ để sớm phát hiện và đưa ngay đến các cơ sở y tế để được điều trị kịp thời. Khi trẻ mắc bệnh, cần cho cách ly ít nhất là 10 ngày từ khi khởi bệnh, không cho trẻ có biểu hiện bệnh đến lớp và chơi với các trẻ khác. 

Thứ Hai, 13 tháng 2, 2012

THUỐC LÁ VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN

THUỐC LÁ VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN
        Theo thống kê, khoảng 30% thanh niên trong độ tuổi sinh sản hút thuốc. Hút thuốc ảnh hưởng không tốt tới khả năng sinh sản của cả nam giới lẫn phụ nữ.
1. Giảm chất lượng của trứng và tinh trùng:
Hút thuốc không chỉ là nguyên nhân gây liệt dương ở nam giới mà còn làm giảm chất lượng cũng như số lượng tinh trùng. Với phụ nữ, hút thuốc có ảnh hưởng tới chất lượng cũng như các chức năng của trứng. Chất nicotin trong thuốc lá làm ngăn cản sự hình thành những hạt nhỏ trên vỏ trứng, đó là những bọc nhỏ đặc biệt gần bề mặt của trứng, thường co lại sau khi trứng đã thụ tinh và ngăn chặn không cho những tinh trùng khác vào trong trứng. Nếu sự hình thành những bọc nhỏ đặc biệt này bị ngăn cản thì sẽ dẫn đến hiện tượng đa thụ tinh (thụ tinh nhiều tinh trùng) và làm cho phôi không trở thành thai nhi được. Chứng đa thụ tinh thường xảy xa ở những phụ nữ hay hút thuốc hơn những phụ nữ không hút thuốc
2. Rối loạn chu kỳ kinh nguyệt:
Những công trình nghiên cứu lâm sàng cũng như những thử nghiệm trên động vật cho thấy chất nicotin có trong thuốc lá chính là nguyên nhân chủ yếu làm thay đổi nồng độ của nhiều loại hóc môn trong cơ thể trong đó có hóc môn estrogen. Những thay đổi như vậy gây cản trở sự rụng trứng và làm xáo trộn chu kỳ kinh nguyệt, tình trạng kinh nguyệt không đều sẽ làm giảm khả năng thụ thai ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Kinh nguyệt của những phụ nữ hút thuốc thường bị rối loạn và họ mãn kinh sớm hơn phụ nữ không hút thuốc. Độ tuổi sinh sản của những phụ nữ không hút thuốc dài hơn so với phụ nữ hút thuốc.
        3. Giảm khả năng thụ thai
        Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy phụ nữ hút thuốc khó thụ thai hơn phụ nữ không hút thuốc. Khả năng thụ thai của người phụ nữ hút thuốc chỉ bằng một phần ba của người phụ nữ không hút thuốc và số điếu thuốc hút càng tăng thì khả năng thụ thai càng giảm.
        4. Gia tăng nhiễm trùng trong ống dẫn trứng
        Phụ nữ hút thuốc lá làm tăng nồng độ của các hóc môn epinephrin, vasopressin, làm cho trứng đi qua ống dẫn trứng nhanh hơn, khi trứng đã thụ tinh vào tử cung sớm thì dễ gây sảy thai. Phụ nữ hút thuốc làm gia tăng nguy cơ nhiễm trùng ống dẫn trứng, đây là một trong những nguyên nhân làm tỷ lệ có thai ngoài tử cung lớn hơn 2-4 lần so với những phụ nữ không hút thuốc. Có thai ngoài tử cung nếu không được phát hiện sớm để xử trí kịp thời (thường là phẫu thuật) thì nó có thể làm vỡ ống dẫn trứng và gây tử vong.

Thứ Sáu, 10 tháng 2, 2012

Phát hiện sớm đục thuỷ tinh thể

Theo thống kê của Bệnh viện Mắt Trung ương, tại Việt Nam có tới 70% số người mù là do đục tinh thể. Đáng nói là có tới 35% người mù do đục thủy tinh thể không biết bản thân bị bệnh hoặc đây là bệnh có thể chữa được.

Đục thủy tinh thể là một căn bệnh rất phổ biến, là nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa ở Việt Nam. Điều đáng nói, đa phần người bệnh đều rất chủ quan, cho rằng thị lực giảm chỉ là dấu hiệu của tuổi già nên không đi khám bệnh, không chữa trị. Bệnh đục thủy tinh thể có khả năng chữa khỏi, nếu phát hiện sớm, việc điều trị vô cùng đơn giản bằng kỹ thuật mổ Phaco. Thị lực người bệnh được phục hồi tốt. Tuy nhiên, đa số người bệnh lại đến viện khi ở giai đoạn muộn, rất khó phục hồi thị lực. Nhất là ở những trường hợp mà các dây thần kinh thị giác (nhiệm vụ cung cấp thông tin nhìn thấy đến não) có thể đã bị phá huỷ hoàn toàn, gây mù vĩnh viễn hoặc nếu điều trị được cũng gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân chính do tuổi già, đái tháo đường, tăng huyết áp, cận thị, chấn thương…

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Đục thủy tinh thể là hiện tượng đục mờ thủy tinh thể. Sự đục mờ này ngăn không cho tia sáng lọt qua, kết quả là võng mạc không thu được hình ảnh và thị lực bệnh nhân suy giảm dẫn đến mù lòa. Bệnh không phải là ung thư hoặc khối u bất thường trong mắt. Bệnh này là do những thay đổi vật lý trong các thành phần của thủy tinh thể gây đục.

Các triệu chứng của bệnh:

- Mắt nhìn thấy mờ, thị lực suy giảm, khó nhìn, lóe sáng, quáng gà, ra nắng mờ hơn trong nơi râm mát.

- Sức nhìn kém trong các vùng sáng bao quanh.

- Nhìn một vật thành hai hoặc ba.

Điều trị: Phẫu thuật là phương pháp duy nhất có hiệu quả trong việc chữa đục thủy tinh thể. Tỷ lệ thành công cao với hơn 90% bệnh nhân khôi phục tốt thị lực của mình với những kỹ thuật tiên tiến hiện nay như Phaco. Sau phẫu thuật bệnh nhân phục hồi rất nhanh và có thể nhìn thấy sau một thời gian ngắn.

Phòng ngừa: Hiện vẫn chưa có cách phòng ngừa hoặc làm chậm sự tiến triển của bệnh đục thủy tinh thể. Bệnh đục thủy tinh thể là nguyên nhân phổ biến gây thị lực kém ở người cao tuổi. Chính vì vậy, nên tăng cường kiểm tra mắt định kỳ nhất là với người cao tuổi để hạn chế các biến chứng, bảo vệ chức năng thị giác và giảm thiểu tỷ lệ mù lòa.
(suckhoedoisong)

Các bệnh về mắt thường gặp ở trẻ em

Theo thông tin từ Hội Nhãn khoa Việt Nam, trên thế giới cứ 1 phút có thêm một trẻ em bị mù, tỉ lệ mắc tật khúc xạ ở trẻ em đang tăng nhanh. Tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM, tỉ lệ cận thị ở học sinh chiếm trên 20%, còn tại các vùng nông thôn chiếm khoảng 13%. Mối nguy hiểm lớn nhất đe doạ thị lực của trẻ em, đó chính là những căn bệnh cản trở sự phát triển bình thường của mắt như bệnh lác, bệnh nhược thị và rất nhiều bệnh khác.
Nếu không được chữa trị kịp thời thì đôi mắt của trẻ sẽ mang tật suốt đời. Một phương pháp điều trị mắt không can thiệp bằng các biện pháp phẫu thuật mà chỉ áp dụng những phương pháp kích thích an toàn và không gây cảm giác sợ hãi hoặc đau đớn có thể là một gợi ý cho các bậc phụ huynh để điều trị kịp thời các bệnh mắt cho con mình trước khi chúng trở nên quá nặng.

Nhw trường hợp bé Lê Hoàng Khôi, 6 tuổi, bị mắc các bệnh nhược thị, viễn thị nhẹ, cận thị, loạn thị, những tật khúc xạ khiến em gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt, học tập, vui chơi. Khôi sẽ tham gia vào khoá điều trị bằng máy 1 tiếng mỗi ngày, mỗi khoá điều trị 10 ngày; 2 - 3 khoá mỗi năm. Tham gia vào khoá điều trị, Khôi được xem phim, điện não đồ vùng thị giác và phân tích kết quả. Vùng hoạt động trùng với màu xanh, tương đương với phim sẽ được chiếu trên màn hình. Vùng không hoạt động hay còn gọi là vùng bị ức chế trùng với màu đỏ, lúc đó màn hình sẽ bị tối đen. Xem phim không liền mạch buộc hệ thị giác phải hoạt động. Việc luyện tập cho mắt sẽ giúp cải thiện thị lực cho Khôi. Ngoài ra, Khôi và các bạn tham gia khoá điều trị còn phải trải qua các bài tập trên hệ thống các máy trực tiếp tác động lên mắt. Một biểu hiện của các tật khúc xạ đó là võng mạc lười hoạt động. Chiếc máy chiếu laser với mức năng lượng thấp để không làm tổn thương mắt. Việc chiếu tia này kích thích võng mạc hoạt động để võng mạc trở nên tốt hơn. Chiếc máy quang học, chiếu hình chạy từ gần đến xa, từ xa đến gần, đều có tác dụng tác động vào hệ điều tiết của mắt, giúp hệ điều tiết trở nên linh hoạt hơn. Đây có thể coi là những bài tập thể dục nhẹ nhàng cho mắt, đồng thời giúp thị lực được cải thiện nhờ võng mạc và hệ điều tiết hoạt động linh hoạt hơn. Sau mỗi khoá điều trị, thị lực có thể tăng từ 1 - 2/10, với những trường hợp nhẹ có thể khỏi luôn hoặc khôi phục được hoàn toàn thị lực.
Các bệnh thường gặp của mắt trẻ em đó là nhược thị: suy giảm chức năng thị giác, thường với nhược thị, rất khó để tìm được loại kính đeo để giúp nhìn tốt lên. Bệnh cận thị giả thì không cần đeo kính mà cần phải điều trị đúng cách. Ngoài ra, còn rất nhiều bệnh thường gặp khác như lệch góc nhìn, khi cho bé tập trung nhìn một điểm ảnh sẽ thấy mắt bé bị lác; hoặc bị bong võng mạc với những bé sơ sinh... Tất cả những tật khúc xạ này thường không cần can thiệp bằng các biện pháp phẫu thuật như mổ, vốn được hạn chế tối đa, mà quan trọng là cần điều trị bằng các bài tập để nâng cao thị lực cho mắt. Bên cạnh đó, một chế độ dinh dưỡng tốt cũng góp phần điều trị các tật khúc xạ cho các em.
Có 3 nguyên nhân gây ra các tật khúc xạ mắt, đó là yếu tố di truyền, một nguyên nhân quan trọng khác, đó là do tác động của cuộc sống, môi trường sống. Trẻ em nông thôn thường ít bị các tật khúc xạ hơn do các em có một không gian sống rộng mở, mắt thường được nhìn rộng, nhìn xa, điều tiết tốt hơn. Trong khi đó trẻ em thành phố lại thường xuyên phải nhìn gần do xem tivi, máy tính, chơi game, không gian sống chật chội... Nguyên nhân thứ 3 đó là điều trị không đúng phương pháp, đeo kính không chuẩn dẫn đến bệnh càng nặng hơn.
Tật khúc xạ mắt ở trẻ em nếu không điều trị sớm, để các em càng lớn sẽ càng khó điều trị. Vì thế, vai trò của phụ huynh trong phòng ngừa và điều trị các bệnh về mắt cho con mình là rất quan trọng. Bạn cần thường xuyên theo dõi con, không để trẻ tiếp xúc tivi, máy tính nhiều, đọc sách hoặc nhìn quá gần. Nếu trẻ xem tivi hay nheo mắt cần cho trẻ đi khám.
Trẻ em cảm nhận được thế giới và 90% các thông tin là nhờ vào đôi mắt. Vì thế, nỗi day dứt lương tâm sẽ theo suốt cuộc đời của chúng ta nếu không quan tâm đúng lúc tới đôi mắt của con em mình

Phòng bệnh Viêm màng não do não mô cầu

Bệnh viêm màng não có thể xảy ra ở mọi nơi, bất kỳ lứa tuổi và thời điểm nào. Tuy nhiên bệnh thường xảy ra ở trẻ em (nhất là trẻ em dưới 5 tuổi) vào mùa nắng nóng… Dưới đây là một số câu hỏi thường gặp về bệnh viêm màng não.

1. Viêm màng não là bệnh gì?

Viêm màng não là bệnh nhiễm trùng của màng não, nguyên nhân có thể do vi trùng hay siêu vi trùng. Đa số các trường hợp vi trùng hay siêu vi trùng từ vùng mũi họng xâm nhập vào màng não và gây viêm màng não.
Bệnh thường xảy ra ở trẻ em, nhưng người lớn cũng có thể bị viêm màng não.

2. Bệnh viêm màng não lây như thế nào?

Bệnh lây qua đường hô hấp, siêu vi trùng hay vi trùng gây bệnh có trong các chất tiết đường hô hấp. Một số người lành khi hít phải chất tiết này khi người bệnh ho hay hắt hơi sẽ có thể bị bệnh.
Siêu vi trùng hoặc vi trùng khi vào cơ thể sẽ vào máu sau đó xâm nhập vào màng não và gây bệnh. Nếu tiếp xúc với bệnh nhân bị viêm màng não, một số trường hợp cần uống thuốc dự phòng tùy theo chỉ định của bác sỹ, tuy nhiên lây bệnh viêm màng não trực tiếp từ người sang người rất hiếm.

3. Ai có thể bị viêm màng não?

Bệnh viêm màng não có thể xảy ra ở mọi nơi, bất kỳ lứa tuổi và thời điểm nào. Tuy nhiên bệnh thường xảy ra ở trẻ em (nhất là trẻ em dưới 5 tuổi) vào mùa nắng nóng, do thói quen sinh hoạt và thời tiết làm trẻ em thường hay mắc các bệnh nhiễm siêu vi đường hô hấp .
Đó cũng là điều kiện để thuận lợi để một số vi trùng và siêu vi trùng xâm nhập vào hệ thống thần kinh trung ương gây viêm màng não.

4. Các triệu chứng của viêm màng não như thế nào?

Dấu hiệu của bệnh viêm màng não có thể xuất hiện rất nhanh ngay trong ngày đầu tiên của bệnh hay xuất hiện sau một vài ngày sốt, ho, sổ mũi bằng các triệu chứng như sau:
  • Trẻ lớn: sốt cao, than đau đầu, đau gáy, ăn kém, nôn ói, cổ cứng
  • Trẻ nhỏ: sốt cao, bỏ bú, biếng chơi, ngủ nhiều, nôn ói, cổ cứng, trẻ còn thóp có thể thấy thóp phồng căng.
  • Riêng trẻ dưới 3 tháng tuổi có thể không sốt mà chỉ có biểu hiện bỏ bú, khóc thét hay ngủ nhiều
Khi nặng hơn trẻ sẽ bị làm kinh, co giật, li bì, hôn mê. Các triệu chứng kể trên có thể không xảy ra theo trình tự và không xuất hiện ở mọi bệnh nhân. Các triệu chứng trên sẽ xuất hiện ngày càng nặng hơn nếu không được điều trị.

5. Bệnh viêm màng não diễn tiến như thế nào?

Diễn tiến bệnh tùy thuộc vào nguyên nhân gây bệnh: nếu do vi trùng sẽ gây tử vong hay để lại di chứng nặng khi trẻ không được điều trị kịp thời. Còn nếu do siêu vi trùng thì bệnh sẽ tự khỏi cũng như đa số các trường hợp nhiễm siêu vi trùng khác (nhiễm siêu vi trùng đường hô hấp gây ra cảm cúm, ho, sổ mũi; nhiễm siêu vi trùng đường tiêu hóa gây ra tiêu chảy, ói).
Tuy nhiên, dù viêm màng não do vi trùng hay siêu vi trùng đều cần phải điều trị và theo dõi tại bệnh viện để phát hiện và xử trí kịp thời các biến chứng của bệnh. Mặt khác để chẩn đoán được viêm màng do vi trùng hay do siêu vi trùng thì cần phải có những xét nghiệm đặc biệt và theo dõi bởi bác sĩ có kinh nghiệm.

6. Làm thế nào để chẩn doán bệnh viêm màng não?

Để có thể biết được bệnh nhân có viêm màng não hay không và nguyên nhân là do vi trùng hay do siêu vi trùng thì cần phải làm các xét nghiệm, đặc biệt làxét nghiệm nước màng não (nước não tủy) và theo dõi cẩn thận tại bệnh viện. Một số phụ huynh không đồng ý cho bác sĩ lấy nước màng não xét nghiệm có thể gây chậm trễ cho việc chẩn đoán bệnh .

7. Bệnh viêm màng não có thể điều trị được hay không?

Để điều trị khỏi bệnh viêm màng não do vi trùng (viêm màng não mủ) cần phải nhập viện sớm, sử dụng kháng sinh thích hợp và nằm viện ít nhầt 10 ngày, trong khi viêm màng não do siêu vi trùng thì không cần thiết phải điều trị kháng sinh và thời gian theo dõi tại bệnh viện chỉ kéo dài từ 3 đến 5 ngày.
Viêm màng não là loại bệnh nặng cần được điều trị cấp cứu, nếu không điều trị hay điều trị trể bệnh có thể gây tử vong hay để lại những di chứng như điếc, mù lòa, động kinh, yếu liệt tay chân hay nặng hơn trẻ không còn nhận biết được người thân dù đã điều trị khỏi bệnh, nhưng nếu điều trị kịp thời trẻ sẽ khỏi bệnh và hoàn toàn bình thường.

8. Bạn sẽ làm gì nếu bạn nghĩ con bạn bị viêm màng não?

Bạn đến gặp bác sỹ càng sớm càng tốt vì dự hậu của bệnh viêm màng não tùy thuộc vào bệnh được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời.
Để phát hiện sớm bệnh viêm màng não cần mang trẻ đến bác sĩ khám khi trẻ có các dấu hiệu nghi ngờ như sốt cao, nôn ói, đau đầu, thóp phồng và cần mang đến bệnh viện ngay khi có có các dấu hiệu nặng như co giật, bỏ bú, bỏ ăn, li bì , hôn mê.
Đối với trẻ chưa thể đến bác sĩ khám ngay thì điều trị tại nhà chủ yếu là hạ sốt và quan trọng nhất là theo dõi tình trạng bệnh của trẻ. Nếu trẻ bị viêm màng não thì các triệu chứng sốt, nôn ói, đau đầu sẽ diễn biến ngày càng nặng hơn. Do đó khi thấy các triệu chứng trên ngày càng nặng hơn thì nên mang trẻ đến bệnh viện.

9. Có thuốc chủng ngừa viêm màng não ở Việt Nam không ?

Có thuốc chủng ngừa một vài loại viêm màng não riêng lẻ nhưng không có thuốc chủng ngừa tất cả các vi trùng gây viêm màng não. Tại Việt nam hiện có 2 loại thuốc chủng ngừa viêm màng não: viêm màng não mủ hay viêm màng não do Hib và viêm màng não do não mô cầu.

10. Làm thế nào để phòng ngừa bệnh viêm màng não?

Để phòng ngừa bệnh viêm màng não nên giữ ấm, chăm sóc tốt trẻ những lúc thời tiết thay đổi và lúc có dịch cảm cúm, điều trị kịp thời khi trẻ bị viêm mũi họng hay viêm tai.
Việc phòng ngừa bằng thuốc chích ngừa chỉ có tác dụng đối với một số loại vi trùng gây ra viêm màng não. Đó là vắcxin phòng viêm màng não do HIB (Hémophillus influenza type B). Tuy nhiên chi phí rất cao khoảng gần 300.000 đồng cho 1 liều vắcxin ( cần phải chích từ 1 – 3 liều tùy theo tuổi và vắcxin này không cần thiết phải chích cho trẻ trên 5 tuổi vì vi trùng này rất khi ít gây viêm màng não ở trẻ trên 5 tuổi).
Ngoài ra còn có vắcxin phòng viêm màng não do não mô cầu (cần phải chích nhắc lại mỗi 3 năm cho trẻ trên 18 tháng tuổi).