Thứ Sáu, 10 tháng 2, 2012

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHĂM SÓC VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH UNG THƯ

Ung thư là một căn bệnh nguy hiểm và đang gia tăng nhanh chóng trong những năm gần đây. Mỗi năm trên Thế giới có khoảng 12 triệu người được phát hiện mắc bệnh ung thư. Việt Nam cũng là quốc gia có tỉ lệ mắc bệnh ung thư thuộc vào loại cao, theo thống kê của Bộ Y tế, năm 2006, cả nước đã có hơn 77.280 ca ung thư được phát hiện.
Tại khoa Ung bướu - Bệnh viện Đà Nẵng, tình hình bệnh nhân đến khám và điều trị bệnh ung thư cũng ngày càng tăng cao. Năm 2010, đã có 2.807 bệnh nhân đến khám và điều trị tại khoa. Qua báo cáo sơ kết 6 tháng đầu năm 2011, tổng số lần khám bệnh tại khoa là 2.544, trong đó số bệnh được điều trị nội trú là 1.644 lượt người. Số bệnh nhân đến khám và điều trị tại đây có độ tuổi trung bình từ 40 đến 55 tuổi và đang có xu hướng ngày càng trẻ hóa.
 Trong những năm qua, Khoa Ung bướu Bệnh viện Đà Nẵng đã từng bước được hoàn thiện và triển khai các phương pháp điều trị mới, mang lại nhiều kết quả khả quan. Ngoài các phương pháp như: phẫu thuật tách khối u khỏi cơ thể, xạ trị, hóa trị,... Khoa còn áp dụng các phương pháp điều trị giảm nhẹ cho bệnh nhân ở giai đoạn cuối nhằm giảm nhẹ các cơn đau do khối u gây ra và nâng cao thể trạng cho bệnh nhân. Đặc biệt, từ tháng 2/2011, Khoa được trang bị thêm máy gia tốc, một trong những thiết bị hỗ trợ công tác xác định vị trí và điều trị các khối u. Từ khi đưa vào hoạt động, trung bình mỗi ngày có khoảng 40 đến 50 ca được áp dụng xạ trị bằng máy này, góp phần giảm thiểu khả năng tiến triển của tế bào ung thư gốc trong cơ thể bệnh nhân. Tùy theo tình trạng bệnh của từng người mà sử dụng các phương pháp điều trị khác nhau, song các phương pháp này đều được kết hợp hỗ trợ lẫn nhau, giúp điều trị bệnh nhân một cách hiệu quả.
Song song với công tác khám chữa bệnh, Khoa Ung bướu Bệnh viện Đà Nẵng còn tham gia các hoạt động của Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống bệnh Ung thư và hợp tác với trường Đại học Winconsin - Hoa Kỳ trong chương trình nghiên cứu ung thư vú. Khoa đã được trang bị những thiết bị công nghệ cao thay thế những thiết bị cũ, lỗi thời... đồng thời cập nhật thêm những kiến thức, những phương pháp điều trị mới, từng bước khẳng định mình trong công tác khám và chữa trị bệnh ung thư.
 Thực tế cho thấy việc chăm sóc và điều trị bệnh ung thư chỉ thực sự có hiệu quả đối với những người được phát hiện sớm còn đối với những người được phát hiện trễ thì việc điều trị rất khó khăn. Trong khi đó, số bệnh nhân đến khám và điều trị tại khoa lại chủ yếu ở những vùng có điều kiện kinh tế thấp, công tác y tế còn kém phát triển, hầu hết khi vào viện đều đã bước sang giai đoạn cuối, ung thư đã di căn sang các bộ phận khác. Một số trường hợp ung thư khác được chẩn đoán tình cờ nhờ vào quá trình khám và điều trị các bệnh khác.
Để phòng tránh và phát hiện sớm bệnh ung thư, các Bác sỹ của Khoa Ung bướu Bệnh viện Đà Nẵng cũng khuyến cáo người dân: Cần thường xuyên theo dõi sức khoẻ của bản thân và đến các cơ sở y tế để kiểm tra sức khoẻ định kỳ 6 tháng một lần; Thực hiện tốt các biện pháp vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường; Hạn chế sử dụng, tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ như: thuốc lá, rượu, bia, thức ăn nhanh và nhiều chất béo, các thuốc bảo vệ thực vật; Có lối sống lành mạnh và luyện tập thể dục thể thao đều đặn.

ĐIỀU TRỊ ĐAU ĐẦU, MẤT NGỦ BẰNG PHƯƠNG PHÁP BẤM HUYỆT KHÔNG DÙNG THUỐC

Nhức đầu, mất ngủ là một trong những triệu chứng phổ biến nhất, do rất nhiều nguyên nhân như: Huyết áp cao hoặc huyết áp thấp; Bệnh về Tai-mũi-họng, Mắt, Răng-hàm-mặt; Chấn thương đầu mặt; U não; Thoái hoá cột sống cổ; Suy nhược thần kinh... Ở phạm vi bài này, chúng tôi chỉ nói về chứng đau đầu mất ngủ do suy nhược thần kinh.
Suy nhược thần kinh là bệnh rối loạn chức năng của vỏ não do tế bào não quá căng thẳng làm cho quá trình ức chế bị suy yếu gây nên các chứng mất ngủ, đau đầu, tim hồi hộp, hay quên…
Nguyên nhân: Do lo lắng, buồn giận, uất ức sợ hãi, suy nghĩ quá độ gây nên (gọi là nội nhân). Ngoài ra còn do phong, hàn, thử, thấp, táo, hoả tác động từ bên ngoài vào cơ thể (gọi là ngoại nhân) mà sinh bệnh.
Triệu chứng: Người mệt mỏi, mất ngủ, hay quên, ù tai, chóng mặt, dễ cáu gắt, mắt hoa, ăn uống kém... Bệnh tuy không nguy hiểm cấp thời nhưng để lâu không điều trị sẽ gây hại cho toàn thân và kém khả năng trong học tập, lao động.
Phương pháp điều trị: Có nhiều phương pháp điều trị như dùng thuốc Bắc, thuốc Tây y, châm cứu, thuỷ châm... Chúng ta cũng có thể dùng phương pháp đơn giản là bấm huyệt theo hệ kinh lạc huyệt mạch của y học Phương đông cho kết quả rõ rệt:
1. Cho bệnh nhân ngồi trên ghế dựa chắc chắn, 2 chân chạm đất, tay để trên đùi, lưng thẳng.
2. Người thầy thuốc dùng ngón tay cái bấm vào huyệt Hợp cốc ở 2 bàn tay, day bấm khoảng 2 phút; bấm tiếp 2 huyệt Thái dương, vuốt lên phía trên tai lần ra sau đầu; chỗ hõm là huyệt Phong trì (3 lần), bấm day ở huyệt Phong trì 2 phút.
3. Bấm ấn 2 huyệt Toản trúc miết ra 2 bên thái dương (3 lần).
4. Bấm ấn huyệt Ấn đường (giữa 2 đầu lông mày) 1 phút, từ Ấn đường lên đến đỉnh đầu (huyệt Bách hội, chia làm 9 huyệt - Ấn day, bấm mỗi huyệt 1phút).
5. Bấm ấn 2 huyệt An miên là huyệt Thành môn, huyệt Nội quan.
6. Cuối cùng dùng cả bàn tay vuốt từ trước đầu ra sau đầu 3 lần, tay lồng vào tóc.
7. Dùng ngón trỏ và cái vuốt từ huyệt Phong trì đến cổ huyệt Thiên trụ 3 - 4 lần.
Như vậy là xong 1 lần điều trị, ngày có thể điều trị 2 lần.
Chú ý: Khi ấn bấm huyệt nếu bệnh nhân mệt xỉu thì phải ngừng ngay, dùng lòng bàn tay xoa nhẹ ở vùng trán.
Phòng bệnh: Để phòng tránh chứng đau đầu mất ngủ chúng ta cần phải:
- Tránh thất tình: Giữ lòng trong sạch, hạn chế dục vọng...
- Tiết dục, tránh trác táng (bế tinh)
- Tập hít thở điều hoà (dưỡng khí) như trong câu thơ của Danh y Tuệ Tĩnh:
Bế tinh dưỡng khí tồn thần
Thanh tâm quả dục thủ chân luyện hình
Tránh những tác nhân gây bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào cơ thể như: nắng, mưa, nóng, lạnh; Lao động có chừng mực, tránh quá sức; Ăn uống điều độ, ngủ nghỉ có giờ giấc; Vệ sinh cá nhân, môi trường sạch sẽ.
     Lương Y Nguyễn Văn Tri

TÌM HIỂU LUẬT AN TOÀN THỰC PHẨM

An toàn thực phẩm là một trong những vấn đề mà Đảng, Nhà nước ta từ lâu đã đặc biệt quan tâm và xem đây là một vấn đề có tác động lớn về sự phát triển kinh tế - xã hội. Việc ban hành Luật An toàn thực phẩm (ATTP) để thay thế Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm là rất cần thiết, góp phần bảo vệ tốt hơn sức khỏe, tính mạng của nhân dân, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới, thực hiện thành công sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
Luật ATTP được Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17/6/2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2011. Luật quy định chi tiết về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm ATTP; điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm (TP), sản xuất, kinh doanh TP và xuất nhập khẩu TP; quảng cáo, ghi nhãn TP; kiểm nghiệm TP; phân tích nguy cơ đối với ATTP; phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục sự cố về ATTP; thông tin, giáo dục, truyền thông về ATTP; trách nhiệm quản lý nhà nước về ATTP.
          Luật có 11 Chương và 72 Điều, có nhiều điểm mới và khác biệt về nội dung so với Pháp lệnh vệ sinh ATTP năm 2003 như quy định các nguyên tắc quản lý ATTP, đặc biệt là trách nhiệm đầu tiên của người sản xuất kinh doanh; quản lý ATTP theo quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật; quản lý ATTP phải đảm bảo phân công, phân cấp rõ ràng và phối hợp liên ngành. Bên cạnh đó, Luật cũng quy định rõ các chính sách của Nhà nước về ATTP, theo đó cần phải xây dựng chiến lược bảo đảm ATTP, quy hoạch vùng sản xuất TP an toàn theo chuỗi cung cấp TP...
Về nguyên tắc quản lí ATTP: Luật quy định trách nhiệm trước tiên về an toàn đối với TP do cơ sở sản xuất, kinh doanh TP phải chịu trách nhiệm về an toàn đối với TP do mình sản xuất, kinh doanh. Quản lý ATTP phải được thực hiện trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh TP trên cơ sở phân tích nguy cơ đối với ATTP, đồng thời phải bảo đảm phân công, phân cấp rõ ràng, phối hợp liên ngành và phải đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Về xử lý vi phạm pháp luật về ATTP: Luật quy định rõ tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh TP vi phạm pháp luật về ATTP thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường và khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật. Mức phạt tiền đối với vi phạm được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; trường hợp áp dụng mức phạt cao nhất theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà vẫn còn thấp hơn 07 lần giá trị thực phẩm vi phạm thì mức phạt được áp dụng không quá 07 lần giá trị TP vi phạm; tiền thu được do vi phạm bị tịch thu theo quy định của pháp luật.
Về điều kiện bảo đảm an toàn đối với TP: Đây là quy định hoàn toàn mới so với Pháp lệnh, theo đó, các loại TP phải đáp ứng đủ hai điều kiện lớn: các điều kiện chung về bảo đảm an toàn và những điều kiện riêng về bảo đảm an toàn tùy theo loại TP.
Về Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP: Luật ATTP 2010 quy định về Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP. Để được cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP, cơ sở đó phải đáp ứng đủ các điều kiện sau: Có đủ điều kiện bảo đảm ATTP phù hợp với từng loại hình sản xuất, kinh doanh TP; có đăng ký ngành, nghề kinh doanh TP trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Thêm vào đó, Luật ATTP 2010 đã giới hạn thời hạn cơ sở được chứng nhận đủ điều kiện ATTP là 3 năm, trong khi Pháp lệnh không quy định thời hạn. Trước 06 tháng tính đến ngày Giấy chứng nhận đủ điều kiện ATTP hết hạn thì tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh TP phải nộp hồ sơ xin cấp lại giấy Chứng nhận nếu tiếp tục sản xuất, kinh doanh. Trong Pháp lệnh chỉ quy định tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh những TP có nguy cơ cao mới cần có Giấy chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh ATTP do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp.
Về phân tích nguy cơ đối với ATTP là điểm mới được quy định tại Luật ATTP 2010. Trách nhiệm thực hiện phân tích nguy cơ đối với ATTP thuộc về Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công thương.
Ngoài ra, Luật ATTP 2010 còn quy định về thông tin, giáo dục, truyền thông về ATTP nhằm mục đích nâng cao nhận thức về ATTP, thay đổi nhận thức, hành vi, phong tục tập quán sản xuất, kinh doanh lạc hậu, gây mất an toàn TP góp phần bảo vệ sức khỏe, tính mạng.

Tăng cường hợp tác và áp dụng các thành tựu khoa học

Đi vào hoạt động được 5 năm là thời gian không dài sau khi thay đổi địa điểm và tên đơn vị, nhưng cũng đủ để Bệnh viện Lao và bệnh Phổi Đà Nẵng xây dựng cho mình một cơ sở vật chất khá đầy đủ và trang bị được các thiết bị tiên tiến, hiện đại. Với 8 khoa-phòng, gần 100 giường bệnh và 78 cán bộ viên chức, mỗi năm, Bệnh viện đã tổ chức khám và điều trị cho hàng ngàn người mắc bệnh Lao. Nếu như trước đây, cơ sở vật chất còn thiếu, đường sá đi lại gặp nhiều khó khăn, thì năm 2010, UBND Tp đã quan tâm đầu tư xây dựng đường đi lại, tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh nhân đến điều trị tại đây. Cơ sở vật chất cũng được xây dựng, nâng cấp với các khoa, phòng, tuy chưa thật sự hoàn thiện nhưng cũng đã đáp ứng được nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân. Năm 2010 vừa qua, Bệnh viện đã khám cho hơn 6.000 lượt người; thực hiện trên 43 nghìn lần xét nghiệm, trong đó có nhiều xét nghiệm kỹ thuật cao. Chỉ đạo và thực hiện các hoạt động của Chương trình chống Lao Quốc gia đạt kết quả cao: tỉ lệ người được xét nghiệm trên toàn thành phố duy trì ở mức cao, hơn 1,5% dân số; 100% bệnh nhân Lao được điều trị bằng chiến lược DOTS tại tuyến xã/phường; tỉ lệ điều trị khỏi đạt chỉ tiêu của chương trình là 93,1%. Có được những kết quả đó là nhờ sự quan tâm của chính quyền thành phố, sự chỉ đạo trực tiếp, kịp thời của lãnh đạo Sở Y tế và sự nỗ lực rất lớn của toàn thể cán bộ viên chức Bệnh viện cũng như sự hợp tác có hiệu quả với các tổ chức trong và ngoài nước trong việc áp dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật vào công tác khám và chữa trị bệnh Lao.
          Lao là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, có mặt ở khắp nơi trên thế giới. Việc phòng, chống và loại trừ bệnh Lao đòi hỏi phải có sự quan tâm và tham gia của toàn xã hội. Chính vì vậy, Lãnh đạo Bệnh viện luôn quan tâm đến vấn đề hợp tác với các đối tác, thường xuyên phối hợp với các cấp chính quyền trong việc thực hiện các cam kết chính trị về phòng, chống Lao tại địa phương; tăng cường hợp tác với các tổ chức Quốc tế như Hiệp hội chống Lao Hoàng gia Hà Lan (KNCV), tiểu Dự án Life-Gap Tp.Đà Nẵng, Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID),… và các tổ chức trong nước như văn phòng Chương trình chống Lao Quốc gia, Viện Phổi Trung ương, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, các bệnh viện trong và ngoài thành phố... Ngoài ra, Bệnh viện cũng tích cực phối hợp y tế công-tư trong công tác phòng, chống Lao và chỉ đạo, giám sát chặt chẽ các Tổ chống Lao tuyến quận/huyện. Nhờ vậy, Bệnh viện đã thiết lập được một mạng lưới chống Lao, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác phòng, chống bệnh Lao.
 Bên cạnh việc tăng cường hợp tác, Bệnh viện cũng luôn chú trọng đến việc áp dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật mới vào việc khám chữa bệnh Lao và đã thu được những kết quả tốt. Năm qua, được sự hỗ trợ có hiệu quả về tài chính và kỹ thuật của các tổ chức như: Hiệp hội chống Lao Hoàng gia Hà Lan (KNCV), Uỷ ban Y tế Hà Lan-Việt Nam (MNCV), Tổ chức Y Tế thế giới (WHO), Công ty đào tạo, đánh giá đạt chuẩn Quốc tế về xét nghiệm Det Norske Veritas (DNV), Bệnh viện đã nâng cấp được phòng xét nghiệm An toàn sinh học cấp I lên phòng An toàn sinh học cấp II đạt chuẩn Quốc tế, đã đưa vào sử dụng từ tháng 10/2010. Trong quá trình nâng cấp, Bệnh viện đã nhận được sự giúp đỡ về khâu tư vấn xây dựng của nhiều đoàn chuyên gia Quốc tế cũng như được đầu tư kinh phí và trang bị các loại máy móc hiên đại, tiên tiến có thể thực hiện các xét nghiệm kỹ thuật cao, đặc biệt là các xét nghiệm phục vụ cho việc điều trị Lao kháng đa thuốc như: máy xét nghiệm sinh học phân tử (PCR), tủ lạnh âm sâu -74 độ, các máy ly tâm lạnh thế hệ mới  nhất, các tủ ủ vi khuẩn và các tủ nuôi cấy vi khuẩn Lao đạt chuẩn an toàn sinh học cấp II quốc tế, dàn máy phục vụ các xét nghiệm Hain Test, đặc biệt là hệ thống máy Gene Xpert – là hệ thống tự động phát hiện vi khuẩn Lao và xác định tính kháng thuốc của vi khuẩn Lao rất nhanh. Sắp tới, phòng xét nghiệm sẽ được đầu tư các loại kính hiển vi LED có thể đọc được các tiêu bản nhanh, giúp giải quyết một khối lượng lớn công việc. Nhờ được đầu tư những trang thiết bị hiện đại như vậy nên trong hoạt động xét nghiệm đã có nhiều tiến bộ đáng kể. Không chỉ thực hiện được nhiều xét nghiệm hơn, năm qua Bệnh viện đã thực hiện được các xét nghiệm kỹ thuật cao như xét nghiệm PCR, xét nghiệm nuôi cấy vi trùng Lao nhanh bằng hệ thống máy MGIT BACTEC 960, đạt 241,2% chỉ tiêu được giao. Ngoài ra, khoa Cận lâm sàng còn triển khai thêm nhiều xét nghiệm mới để phục vụ cho việc khám, chẩn đoán và theo dõi điều trị. Hiện nay phòng xét nghiệm có 2 bác sĩ và 6 kỹ thuật viên xét nghiệm đã được đào tạo trong và ngoài nước. Ngoài ra còn được các chuyên gia nước ngoài đào tạo, tập huấn thêm tại chỗ về các quy trình xét nghiệm chuẩn như: quy trình nuôi cấy vi khuẩn Lao và quy trình đảm bảo chất lượng; quy trình pha chế môi trường và đảm bảo an toàn sinh học…
Cùng với việc nâng cấp phòng xét nghiệm, Bệnh viện cũng đã nhận được sự đầu tư về kinh phí của Chương trình chống Lao Quốc gia, và hỗ trợ kỹ thuật của các chuyên gia Quốc tế trong việc xây dựng khoa điều trị Lao kháng thuốc đạt chuẩn với các trang thiết bị hiện đại. Đây thực sự là một niềm vui lớn của toàn thể cán bộ nhân viên Bệnh viện và nhất là các bệnh nhân mắc Lao kháng thuốc. Hiện tại, Khoa đã đi vào hoạt động và đưa bệnh nhân vào điều trị với các loại thuốc được Tổ chức Y tế Thế giới cung cấp theo chương trình điều trị Lao kháng đa thuốc thí điểm tại 5 tỉnh thành trong cả nước. Khâu phòng chống nhiễm khuẩn, kiểm soát lây truyền cũng được Bệnh viện chú ý thực hiện. Sắp tới, Bệnh viện sẽ tiếp tục xin tài trợ để đầu tư thêm các thiết bị phục vụ chẩn đoán tình trạng Lao kháng đa thuốc cho những bệnh nhân điều trị tại đây. Hiện nay, Bệnh viện cũng đang tiến hành xây dựng khu điều trị các bệnh Phổi khác ngoài bệnh Lao.
Song song với việc áp dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật vào việc khám chữa bệnh, Bệnh viện cũng luôn chú trọng đến việc nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn của đội ngũ y, bác sĩ tại bệnh viện và tại các Tổ chống Lao tuyến quận/huyện. Năm qua, được sự hỗ trợ về chuyên môn của các bác sĩ Viện Phổi Trung ương trong Đề án 1816, các bác sĩ đã được chuyển giao và thực hành tốt thủ thuật mở dẫn lưu màng phổi bằng Trocar chuyên dụng cho các bệnh nhân tràn dịch, tràn khí màng phổi nặng mà không cần phải chuyển tới bệnh viện Đà Nẵng như trước đây. Bệnh viện cũng thường xuyên tổ chức hội chẩn viện, liên viện với Bệnh viện Đà Nẵng, Bệnh viện Da Liễu… về các ca bệnh nặng, bệnh khó như Lao màng não, Lao phổi, Lao hệ thần kinh trung ương… và tham gia hội chẩn với các bệnh viện khác trong thành phố, góp phần chẩn đoán và giải quyết cho các bệnh nhân ở bệnh viện đó được điều trị Lao theo đúng phác đồ. Nhờ cách làm như vậy nên Bệnh viện ngày càng tạo được uy tín và thu hút được nhiều bệnh nhân trong và ngoài tỉnh đến điều trị. Hàng năm, Bệnh viện cũng đã mở các lớp đào tạo cho các kỹ thuật viên cũng như các cán bộ làm công tác phòng chống Lao tại bệnh viện, các bệnh viện trong tỉnh, các Tổ chống Lao tuyến quận/huyện và các cán bộ y tế Trại giam, Trại tạm giam của 30 tỉnh trong cả nước; phối hợp với Viện Phổi trung ương giám sát và hỗ trợ kỹ thuật cho các tỉnh trong khu vực. Để nâng cao hiệu quả quản lý, Bệnh viện cũng đã trang bị thêm phần mềm “Quản lý bệnh viện”, hỗ trợ đắc lực cho công tác khám chữa bệnh tại đây.
Cũng trong năm qua, dưới sự tài trợ của tiểu Dự án Life-Gap thành phố Đà Nẵng, Bệnh viện Lao và bệnh Phổi đã phối hợp với Bệnh viện Da liễu và Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS thành phố xây dựng phòng tư vấn và xét nghiệm sàng lọc HIV cho bệnh nhân đăng ký điều trị trong Chương trình chống Lao Quốc gia và khám, chẩn đoán bệnh Lao cho bệnh nhân HIV. Nhờ đó, Bệnh viện đã thử test HIV sàng lọc cho 658 bệnh nhân Lao, phát hiện 6 trường hợp nhiễm HIV mới; khám cho 157 lượt người có HIV (+), phát hiện và điều trị cho 9 bệnh nhân Lao.
Công tác nghiên cứu khoa học chuyên ngành Lao và bệnh Phổi cũng được quan tâm, liên tục từ năm 2007 đến năm 2010 Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Đà Nẵng đều có bài được đăng ở Tạp chí Lao và Bệnh phổi Quốc tế và Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học của Đơn vị nghiên cứu và điều tra về bệnh Lao của Hiệp hội Lao và Bệnh phổi Quốc tế.
Mặc dù còn gặp không ít những khó khăn, nhưng với sự quan tâm của chính quyền các cấp, Sở Y tế, sự phối hợp tích cực của các đối tác phòng chống Lao và một cách làm phù hợp, Bệnh viện Lao và bệnh Phổi Đà Nẵng đã có những bước đi vững chắc trong việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân, góp phần cùng với hệ thống phòng chống Lao trên toàn quốc tiến đến hoàn thành mục tiêu loại trừ bệnh Lao ra khỏi đời sống cộng đồng.                                       Phan Yên

Thuốc lá và sức khỏe phụ nữ

Ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe:
Phụ nữ hút nhiều hơn 2 bao thuốc /ngày có nguy cơ bị chết do ung thư phổi cao hơn gấp 20 lần so với phụ nữ không hút thuốc. Nhất là phụ nữ ở tuổi ngoài 40, lượng cholesterol máu tăng cao, tóc giòn dễ gãy, viêm lợi răng, hơi thở hôi, viêm thanh quản mạn. Phụ nữ hút thuốc sẽ có cơn đau tim nhiều gấp 2-6 lần so với những phụ nữ không hút thuốc. Hút 1- 4 điếu thuốc một ngày đủ làm tăng gấp đôi nguy cơ bệnh tim. Phụ nữ hút thuốc có cơn đau tim sau tuổi 65 gấp 2 lần so với nam giới hút thuốc. Mặt khác, sau khi mãn kinh, xương của phụ nữ hút thuốc lá trở nên giòn hơn do loãng xương nên dễ gãy khi bị chấn thương.
Ảnh hưởng đến khả năng sinh sản:
Khó thụ thai, vô sinh, nguy cơ cao có thai ngoài tử cung, sẩy thai, và các ảnh hưởng khác khi mang thai. Khi phụ nữ có thai hút thuốc, hai chất độc có trong thuốc lá là Monoxide carbon và nicotine vào trong máu của bào thai làm giảm sự cung cấp oxygen và làm tăng nhịp tim, nguy cơ sẩy thai tự phát sẽ cao hơn. Phụ nữ cho con bú mà hút thuốc thì ít sữa hơn người không hút thuốc. Ngoài ra còn bị các tai biến khác nhiều hơn như thai chết lưu trong bụng mẹ, đẻ non, băng huyết, vỡ ối sớm...
Hậu quả già sớm:
Chứng nhiễm độc thuốc lá hại đến da vì chất nicotine gây co mạch, làm giảm tuần hoàn máu và giảm cung cấp oxy, làm cho da nhăn và lão hoá sớm hơn, tóc bạc sớm hơn. Da đầu không được nuôi dưỡng đầy đủ nên tóc trở nên mỏng manh, dễ đứt. Khói thuốc kích thích mắt làm cho kết mạc dễ bị viêm. Chất nicotin và nhựa trong thuốc lá có thể làm răng phai màu và làm cho nướu răng dễ thoái hoá. Hơi thở có mùi hôi và giọng nói có thể bị thay đổi.
Ảnh hưởng đến thai nhi:
Hút thuốc lá sẽ cản trở việc cung cấp máu , ôxy và các chất dinh dưỡng đến thai nhi. Thai nhi có nguy cơ bị nhiễm các chất độc như: carbone monoxide, nicotine và cyanide. Ngay cả trong trường hợp chỉ hít khói thuốc lá từ những người hút khác cũng có thể có những hậu quả bất lợi cho bào thai. Vì vậy, khi ở nơi làm việc, người phụ nữ mang thai cần cố gắng thuyết phục mọi người đi nơi khác hút thuốc lá.