Thứ Ba, 17 tháng 1, 2012

VAI TRÒ CỦA VI CHẤT DINH DƯỠNG

Trong những năm gần đây, tình trạng dinh dưỡng của người dân đã được cải thiện một cách đáng kể. Thiếu ăn đã không còn là vấn đề cấp bách của xã hội. Tuy nhiên, ăn uống như thế nào để không bị suy dinh dưỡng nhưng cũng không thừa cân, ăn thế nào để nâng cao tầm vóc cơ thể, tăng hiệu quả của hoạt động trí óc, tăng sức đề kháng, chống hiện tượng lão hóa, đề phòng các bệnh mãn tính xảy ra ở tuổi trung niên và tuổi già, kéo dài tuổi thọ.v.v... lại trở thành mối quan tâm của cả cộng đồng. Để đạt được điều đó, thì bữa ăn gia đình cần được tổ chức một cách hợp lý hơn, nghĩa là phải đủ về số lượng và cân đối về chất lượng, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của cơ thể, đặc biệt là các vi chất dinh dưỡng.
Người ta gọi là “vi chất dinh dưỡng” vì cơ thể chỉ cần chúng với một lượng rất nhỏ nhưng nếu thiếu sẽ gây nhiều tác hại đối với cơ thể. Trong số các vi chất cần thiết, thì vitamin A, sắt, iốt, kẽm là những vitamin và khoáng chất rất dễ thiếu và cần được bổ sung thường xuyên.
1. Vitamin A - Người bạn của đôi mắt
 Đây là loại vitamin tan trong chất béo. Bên cạnh sự cần thiết cho quá trình phát triển của xương, sinh sản, sự phân bào, sự sao chép gen....thì chức năng đặc trưng nhất của vitamin A là tác dụng trên võng mạc mắt. Bình thường, mắt có thể thích nghi với sự thay đổi “sáng - tối” một cách nhanh chóng, khi thiếu vitamin A thì mắt dễ bị lóa và mất thời gian lâu mới điều chỉnh lại như bình thường. Vitamin A còn giúp thúc đẩy sự phát triển và biệt hóa các tế bào biểu mô ở mắt, do đó, khi thiếu vitamin A dễ dẫn đến sừng hóa biểu mô giác mạc có thể gây loét và mù lòa do thiếu vitamin A (gọi là bệnh khô mắt).
 Để phòng tránh bệnh khô mắt, thì cách tốt nhất là bổ sung thường xuyên Vitamin A vào các bữa ăn hàng ngày. Vitamin A có nhiều  trong thực phẩm có nguồn gốc động vật như: gan, thịt, cá, trứng, sữa toàn phần và  một số thức ăn bổ sung. Tiền vitamin A còn có nhiều trong rau quả xanh và vàng đậm như: rau muống, rau dền, mồng tơi, rau đay, rau ngót, cà rốt, bông cải xanh, bí đỏ, xoài, đu đủ, gấc.v.v...
2. Iốt - Không thể thiếu đối với trí não
Đây là vi chất dinh dưỡng rất cần cho sự tăng trưởng và hoạt động trí não mà cơ thể chỉ cần với một lượng rất nhỏ (khoảng 100-200 microgram/ngày). Thế nhưng nếu thiếu thì tác hại vô cùng. Chức năng quan trọng nhất của iốt là tham gia tạo hormon giáp. Đây là những hormon rất cần cho sự phát triển bình thừơng của não. Trẻ em trong độ tuổi phát triển nhanh và phụ nữ mang thai là những đối tượng rất dễ bị thiếu iốt do nhu cầu tăng cao. Thiếu iốt ở giai đoạn bào thai thì trẻ sanh ra sẽ bị đần độn và các khuyết tật thần kinh khác như: điếc, lác mắt, khoèo chân, tay…Phụ nữ mang thai nếu thiếu iốt sẽ dễ bị sẩy thai, thai chết lưu hoặc sanh non. Các em học sinh nếu bị thiếu iốt sẽ làm giảm thành tích học tập do khả năng tập trung trí óc kém.
Cách tốt nhất để phòng tránh thiếu hụt Iod là sử dụng muối iốt thay cho muối thường khi ăn và chế biến thực phẩm. Chúng ta  có thể ướp thịt cá, muối dưa cà, và nêm nếm thức ăn trên bếp như bình thường mà không cần phải tắt bếp mới nêm như trước đây. Chỉ cần lưu ý là phải giữ muối luôn khô ráo, đậy nắp kín, tránh nơi có nhiệt độ cao để tránh hao hụt vì iốt là một chất dễ bay hơi.
3. Sắt - Cần thiết để tạo máu và trí thông minh
Sắt là thành phần quan trọng để tạo ra huyết sắc tố. Thiếu sắt sẽ gây thiếu huyết sắc tố và gây nên bệnh thiếu máu.  Người thiếu máu do thiếu sắt có da xanh xao, niêm mạc mắt nhạt màu. Trẻ em thiếu máu sẽ chậm lớn, giảm trí thông minh, trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn. Người lớn bị thiếu máu thường bị chóng mặt, xâm xoàng, sức khỏe kém, giảm khả năng lao động.  
Để không bị thiếu máu do thiếu sắt thì cần ăn đủ năng lượng với đa dạng các loại thực phẩm. Chất sắt có nhiều trong các loại thịt cá “đỏ” như: thịt bò, thịt heo, cá ngừ…, chất sắt còn có nhiều ở gan, huyết, hoặc rau xanh như rau dền, bồ ngót và các loại đậu hạt. Sắt từ thức ăn có nguồn gốc động vật sẽ dễ hấp thu hơn nguồn gốc thực vật. Ăn thêm trái cây tươi giàu vitamin C sau bữa ăn chính như cam, chanh, bưởi, táo, sơ-ri, đu đủ, chuối… sẽ giúp hấp thu tốt chất sắt từ bữa ăn.
4. Kẽm - Vi chất đa chức năng
    Kẽm là một vi chất tham gia vào thành phần của trên 300 enzym khác nhau, được xem như chất xúc tác không thể thiếu trong quá trình nhân bản AND và  tổng hợp chất đạm. Kẽm tập trung nhiều ở hệ thần kinh, chiếm khoảng 1,5% tổng lượng kẽm trong toàn bộ cơ thể.  Kẽm có ảnh hưởng tốt đến phát triển cơ thể như: tăng khả năng hấp thu, tổng hợp protein, vận chuyển VitaminA, tăng cảm giác ngon miệng...
Thiếu kẽm ở phụ nữ mang thai sẽ làm giảm cân nặng và chiều cao trẻ sơ sinh. Trẻ em thiếu kẽm sẽ dễ mắc bệnh nhiễm trùng. Thiếu kẽm còn làm chậm phát triển chiều cao, rối loạn phát triển xương, chậm dậy thì,  giảm chức năng sinh dục.
Kẽm có nhiều trong thực phẩm nguồn gốc động vật và hải sản, đặc biệt cao trong con hàu. Thực phẩm nguồn gốc thực vật thường chứa ít kẽm trừ phần mầm của các loại hạt. Tỉ lệ hấp thu kẽm từ sữa bò thấp hơn sữa mẹ.
Như vậy, vi chất dinh dưỡng rất cần cho sức khỏe, sự phát triển tầm vóc và trí thông minh. Nhu cầu những chất này thường rất nhỏ nhưng mang lại hiệu quả lớn và lại dễ bị thiếu trong chế độ ăn. Do đó, để phòng ngừa thiếu vi chất dinh dưỡng, mọi gia đình cần phải thực hiện tốt 10 lời khuyên dinh dưỡng hợp lý.

HIV VÀ CÁC HÌNH THỨC LÂY TRUYỀN

Theo thông tin từ Trung Tâm Phòng chống AIDS thành phố Đà Nẵng, kể từ khi phát hiện ca nhiễm HIV đầu tiên ở Việt Nam vào tháng 12/1990 cho đến nay, trên cả nước đã phát hiện trên 162 nghìn trường hợp nhiễm HIV, trong đó có gần 27 nghìn trường hợp đã tiến triển thành AIDS còn sống và gần 39 nghìn trường hợp đã tử vong do AIDS. Tất cả 64 tỉnh, thành phố trong cả nước đều chịu sự tác động của đại dịch này.
Sự gia tăng của HIV/AIDS không chỉ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ, tính mạng của con người và tương lai nòi giống của dân tộc, mà còn tác động trực tiếp đến mọi mặt của đời sống xã hội, đe doạ sự phát triển bền vững của đất nước.
Vậy như thế nào gọi là HIV, AIDS và các hình thức lây truyền của nó ra sao?
         Trước hết, đây là là 2 chữ viết tắt của 2 cụm từ trong tiếng Anh. HIV có nghĩa là Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh. Còn AIDS nghĩa là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây ra, thường được biểu hiện thông qua các nhiễm trùng cơ hội, các ung thư và có thể dẫn đến tử vong.
Tuy nhiên, tần suất lây nhiễm còn tuỳ thuộc vào lượng vi rút của nguồn lây, và vào tần suất thực hiện các hành vi nguy cơ cao như: dùng chung bơm kim tiêm, quan hệ tình dục với gái mại dâm mà không dùng bao cao su...
Ở Việt Nam hiện nay đang có su hướng giao thoa giữa các đường lây, vì người nghiện chích ma tuý vừa có khả năng bị lây HIV do dùng chung bơm kim tiêm vừâ có nguy cơ bị lây HIV qua quan hệ tình dục không an toàn. Ngược lại, gái bán dâm vừa có nguy cơ bị lây HIV qua quan hệ tình dục vừa có nguy cơ lây HIV qua tiêm chích ma tuý. Tuy nhiên, tỷ lệ lây truyền qua quan hệ tình dục có su hướng cao hơn vì số người có hành vi quan hệ tình dục không an toàn cao hơn rất nhiều so với số người nghiện chích ma tuý.
    Để bảo vệ sức khoẻ bản thân phòng lây nhiễm HIV, trước hết mỗi người cần tìm hiểu những thông tin chính xác về HIV/AIDS. Luôn áp dụng các biện pháp dự phòng không để mình tiếp xúc trực tiếp với máu và dịch của người khác như: luôn dùng riêng bơm kim tiêm vô trùng, tốt nhất là loại dùng một lần, luôn sử dụng bao cao su đúng cách trong quan hệ tình dục, luôn dùng trang thiết bị bảo hộ khi phải tiếp xúc với máu và dịch của người khác, đến các cơ sở tư vấn HIV để được tư vấn kỹ càng nếu bạn có bất cứ điều gì còn thắc mắc về HIV/AIDS.
       Bên cạnh việc tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sách và các chương trình phòng chống AIDS, chúng ta cần phát huy hơn nữa vai trò của gia đình và cộng đồng trong chăm sóc người nhiễm. Gia đình và cộng đồng sẽ gíup và tạo điều kiện thuận lợi để người nhiễm tiếp cận với các dịch vụ y tế, giao lưu với cộng đồng, giảm bớt mặc cảm, không dấu diếm bệnh tật và cùng tham gia ngăn ngừa sự lây lan của đại dịch này. /.

Thứ Năm, 12 tháng 1, 2012

DẤU HIỆU VÀ CÁCH PHÒNG CHỐNG BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT

Dấu hiệu của bệnh sốt xuất huyết

         Sốt xuất huyết là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do siêu vi trùng tên là Dengue (Đăn-gơ) gây ra. Bệnh lây do muỗi vằn hút máu truyền siêu vi trùng từ người bệnh sang người lành. Sốt xuất huyết xảy ra quanh năm, đặc biệt vào mùa mưa, có thể bộc phát thành dịch đe doạ sinh mạng trẻ em và sức khỏe cộng đồng.
       Những dấu hiệu của bệnh Sốt xuất huyết là: 
- Người bệnh sốt cao 39-40 độ C , đột ngột, liên tục trong 3-4 ngày liền.
- Xuất huyết dưới da: Làm lộ trên mặt da những chấm nhỏ màu đỏ, đốm đỏ hay vết bầm. 
- Chảy máu cam, chảy máu chân răng, nướu răng, ói hoặc đi cầu ra máu, người bệnh mệt, li bì hoặc vật vã, chân tay lạnh, tiểu ít.
      Làm gì khi nghi ngờ bị Sốt xuất huyết? 
- Đưa ngay người bệnh đến cơ sở Y tế để được khám và điều trị kịp thời. Nếu trường hợp nhẹ, có thể chăm sóc tại nhà như sau: 
- Cho ăn nhẹ: cháo, súp, sữa…
- Cho uống nhiều nước hơn bình thường, có thể dùng nước chín để nguội, nước Oresol (nước biển khô, cách pha: 1 gói pha vào 1 lít nước, uống 100-150ml nước/kg cân nặng/ngày), nước cam vắt, nước chanh đường…
- Hạ sốt với thuốc Paracetamol, lau nước ấm khi sốt cao.
- Không được uống Aspirin (vì gây thêm xuất huyết), không cắt lễ hay cạo gió.
      Cách phòng bệnh sốt xuất huyết? 
- Mặc quần áo dài tay, ngủ mùng cả ban đêm lẫn ban ngày. Không để trẻ nơi thiếu ánh sáng, ẩm thấp để tránh muỗi đốt.
- Thoa thuốc chống muỗi lên những vùng da lộ ra ngoài để bảo vệ trẻ mọi lúc, cả ngày lẫn đêm.
- Đậy kín lu, vại, hồ, bể chứa nước, không tạo nơi cho muỗi đẻ và hàng tuần nên cọ rửa với bàn chải để trứng muỗi rơi ra; thả cá 7 màu diệt lăng quăng.
- Dọn dẹp nhà cửa ngăn nắp, sạch thoáng, không treo quần áo làm chỗ cho muối trú đậu, loại bỏ các vật chứa nước đọng (gáo dừa, lon, đồ hộp, ly, chén, chai lọ bể, vỏ xe…), thay nước bình bông mỗi ngày, đổ dầu hôi hoặc pha nhiều muối vào chén nước chống kiến chân tủ thức ăn để triệt nơi sinh sản của muỗi. Có thể dùng thuốc diệt muỗi.

PHÁT HIỆN SỚM BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT TẠI CỘNG ĐỒNG

Phát hiện sớm sốt xuất huyết tại cộng đồng
  1. Bệnh Sốt xuất huyết là gì?
 Sốt xuất huyết là bệnh truyền nhiễm, cấp tính gây dịch do vi rút dengue gây ra. Bệnh xảy ra quanh năm nhưng thường bùng phát thành dịch lớn vào những thời điểm giao mùa hàng năm, thời tiết mưa nắng thất thường. Ở Việt Nam, bệnh xảy ra ở hầu hết các tỉnh, thành phố, nhất là các tỉnh ven biển Miền Trung.
  Khoa học đã chứng chứng minh bệnh sốt huyết do một loại muỗi vằn có tên là Aedes Aegypti truyền từ người nầy qua người khác. Muỗi nầy thường sống gần nơi sinh hoạt của người, sống ở trong nhà và nó hoạt động chủ yếu vào ban ngày, mạnh nhất là vào sáng sớm và chiều tối.
2. Tại sao sốt xuất huyết lại nguy hiểm?
 Bất cứ ai cũng có thể bị mắc sốt xuất huyết, nhất là những người sống trong vùng có dịch. Trẻ em từ 1-15 tuổi thường dễ mắc bệnh và nặng hơn so với người lớn. Hiện nay, bệnh sốt xuất huyết vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và chưa có vắc xin phòng bệnh. Bệnh có tốc độ lan truyền nhanh và có thể xảy ra thành dịch lớn, làm nhiều người mắc cùng lúc, nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời, bệnh có thể gây ra tử vong, đặc biệt là trẻ em.
3.Vậy người mắc bệnh sốt xuất huyết có các biểu hiện gì?
Trước hết là hiện tượng sốt cao, đột ngột, từ 39 độ trở lên, và liên tục, dai dẵng trong thời gian từ 2 đến 7 ngày liền, khó hạ sốt, kèm theo đau đầu dữ dội vùng trán, đau sau nhãn cầu.
Thứ hai, bệnh nhân có biểu hiện xuất huyết nhìn thấy được như: những chấm xuất huyết, điểm xuất huyết hay mãng xuất huyết dưới da, người bệnh bị chảy máu mũi, chảy máu lợi hoặc răng, người bệnh nôn ra máu hoặc đi cầu ra máu.
Thứ 3, bệnh nhân có biểu hiện choáng, mạch nhanh, huyết áp tụt hoặc huyết áp kẹp, đau bụng, buồn non, chân tay lạnh, người bệnh vật vả, hốt hoảng.
4. Cần làm gì khi nghi ngờ bị sốt xuất huyết?
 Cần phải đưa người bệnh đi khám ngay khi bị sốt cao đột ngột, nhất là vào những tháng mưa trong năm, hoặc trong vùng đã có người bị sốt xuất huyết. Trường hợp bệnh nhẹ hoặc chưa có điều kiện đưa đến cơ sở y tế, thì có thể chăm sóc ngay tại nhà bằng cách:
+ Nghỉ ngơi tại nhà,
+ Cho uống nhiều nước, nước uống tốt nhất là dung dịch Oresol hoặc  hoặc nước trái cây. Ăn các thức ăn nhẹ, dễ tiêu hoá như: cháo, súp, sữa...
+ Dùng thuốc paracetamol để hạ sốt,  khi bị sốt cao thì phải dùng khăn ướt để lau mát, chú ý lau nhiều ở 2 bẹn và 2 nách vì đây là vùng có nhiều mạch máu đi qua.
+ Tuyệt đối không được dùng Aspirin để hạ sốt. Tuyệt đối không được cạo gió, trích huyết...
Theo dõi thường xuyên, nếu thấy có bất kỳ biểu hiện xuất huyết nào hoặc bệnh trở nặng hơn như: li bì, bứt rứt, vật vả, chân tay lạnh, đau bụng, nôn mữa nhiều...thì cần phải đưa ngay bệnh nhân đến bệnh viện để được điều trị kịp thời./.

DINH DƯỠNG HỢP LÝ VÀ SỨC KHOẺ

Dinh dưỡng hợp lý và sức khoẻ
        Bữa ăn gia đình có vai trò rất quan trọng đối với sức khoẻ của toàn gia đình. Gia đình được ăn uống tốt thì sức khoẻ của cả gia đình được đảm bảo, trẻ em không bị suy dinh dưỡng, người lớn không mắc bệnh tật, không mất sức lao động và không gây ảnh hưởng đến nguồn thu nhập của gia đình. Do đó, mọi người cần có những hiểu biết cơ bản nhất về nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể, giá trị dinh dưỡng của các nhóm thức ǎn để biết cách lựa chọn và ǎn uống phù hợp với nhu cầu của từng người.
      Vậy như thế nào là một bữa ăn hợp lý? Theo Viện Dinh dưỡng Việt nam, bữa ăn gia đình cần phải đảm bảo một cách cân đối về các chất sản sinh năng lượng, hợp lý về các thành phần dinh dưỡng như: protid, lipid, glucid, khoáng chất và các vitamin cần thiết khác.
1. Hợp lý về tỷ lệ các chất sinh năng lượng:
Khi vào cơ thể, 1g protid (chất đạm) cung cấp 4 Calo, 1g lipid (chất béo) cung cấp 9 Calo, 1g glucid (đường bột) cung cấp 4 Calo. Trước đây, một số chuyên gia dinh dưỡng ở các nước phát triển, Châu Âu đã đề nghị các chất đạm, béo và đường bột ở tỷ lệ 1:1:4 là thích hợp. Ngày nay, tỷ lệ này còn chưa được thống nhất. Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển như nước ta, tỷ lệ này được khuyến cáo là 1:1:5 hoặc 1:1:6.
2. Hợp lý về protid:
Protid là thành phần chính để xây dựng tế bào. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, bình quân 1 ngày người lớn cần 0,75g protid cho một kg trọng lượng cơ thể. Nhưng trong một bữa ăn bao giờ cũng có nhiều loại protid có giá trị sinh học và hệ số hấp thụ thấp hơn. Do vậy, nhu cầu thực tế phải tăng lên khoảng 1,2g/kg thể trọng/ngày. Trong đó, protid có nguồn gốc động vật nên chiếm từ 35-50%. Ngoài thịt, cá, trứng, sữa, thì đậu tương là loại thực phẩm có hàm lượng protid rất cao và chất lượng tốt.  Trẻ em bị suy dinh dưỡng, người ốm suy kiệt, sau mổ, phụ nữ mang thai và cho con bú… cần một số lượng protid cao hơn bình thường. Ngược lại, những người mắc bệnh thận thì cần một lượng ít hơn.
3. Hợp lý về lipid:
Năng lượng do lipid cung cấp bình quân khoảng 25%, không nên dưới 10% và trên 35% tổng số năng lượng của khẩu phần ăn. Nếu thiếu lipid sẽ kéo theo thiếu các vitamin tan trong dầu như: A, D, E, K. Nếu ăn nhiều mỡ động vật sẽ dễ mắc các bệnh tim mạch. Ngược lại, nếu ăn dầu thực vật sẽ có lợi cho việc phòng và chữa các bệnh vữa xơ động mạch, tăng huyết áp... Lạc, vừng là những hạt có nhiều dầu.
4. Hợp lý về glucid:
Glucid chủ yếu do ngũ cốc, rau, củ quả cung cấp, chiếm khoảng 55-60% tổng số năng lượng của khẩu phần ăn. Trong thành phần glucid, chất xơ cũng đóng vai trò rất quan trọng vì nó giúp điều hòa nhu động ruột và chống táo bón. Mọi người không nên ăn bánh kẹo, quả ngọt hoặc đồ uống có đường trước giờ ăn chính vì nó sẽ làm mất cảm giác đói, đến giờ ăn chính sẽ không ăn được nhiều thức ăn khác cần hơn. Người mắc bệnh đái tháo đường cần ăn ít đường bột hơn và cần chia làm nhiều bữa nhỏ trong ngày.
5. Hợp lý về khoáng chất:
Khẩu phần ăn có nhiều canxi và phospho, ở một tỷ lệ thích hợp sẽ giúp phát triển xương ở trẻ em và chống loãng xương ở người già. Tỷ lệ Canxi và Phospho trong khẩu phần của trẻ em nên từ 1-1,5 (ở sữa mẹ là 2 và sữa bò là 1,25), của người lớn nên từ 0,7-1. Ngày nay, các vi chất dinh dưỡng khác như: sắt, kẽm, i-ốt...cũng cần được chú ý đến nhiều hơn vì vai trò quan trọng của nó đối với cơ thể.
6. Hợp lý về vitamin:
Chúng ta đã biết rất nhiều loại vitamin và vai trò của nó đối với cơ thể. Thiếu vitamin A trẻ sẽ chậm phát triển, dễ mắc bệnh, dễ bị khô mắt, mù lòa. Thiếu Vitamin B1 dễ mắc bệnh tê phù, chán ăn, mệt mỏi. Thiếu vitamin C dễ bị xuất huyết, nhiễm trùng, thiếu Vitamin D trẻ sẽ bị chậm lớn, còi xương…
VitaminA có nhiều trong thịt, gan, trứng. Beta-caroten (tiền vitaminA) có nhiều trong rau quả như cà rốt, gấc, đu đủ chín… B1 có nhiều trong gạo, nhất là cám gạo, để phòng thiếu B1 không nên ăn gạo đã để quá lâu và xát quá kỹ. Vitamin C có nhiều trong rau quả tươi, muốn tránh hao hụt vitamin C không nên thái rau quá nhỏ và không nên vò nát rau khi rửa./.